Việt Nam đặt mục tiêu xuất khẩu tăng 15 - 16% mỗi năm giai đoạn 2026 - 2030, đồng thời nâng tỷ trọng doanh nghiệp trong nước và hàng công nghệ cao. Theo Bộ Công Thương, tăng kim ngạch phải đi cùng nâng cao giá trị gia tăng, năng lực sản xuất và khả năng tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp Việt.
Tăng tỷ trọng xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước
Giai đoạn 2021 - 2025, xuất khẩu hàng hóa Việt Nam tăng bình quân 10,9% mỗi năm, nhập khẩu tăng 11,6%. Cán cân thương mại duy trì xuất siêu liên tục 5 năm, với tổng thặng dư 89,5 tỷ USD, tương đương 4,6% kim ngạch xuất khẩu cùng kỳ. Nhiều mặt hàng như gạo, thủy sản, cà phê, hồ tiêu, dệt may đã vươn lên nhóm dẫn đầu thế giới về quy mô xuất khẩu. Cơ cấu hàng hóa và thị trường từng bước đa dạng hóa, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và mở rộng quan hệ thương mại.
Tuy nhiên, đằng sau kết quả về quy mô vẫn còn những vấn đề cần giải quyết, từ sự phụ thuộc vào một số thị trường, chênh lệch cán cân thương mại với các đối tác đến giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu.
Tại hội thảo lấy ý kiến về dự thảo Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa đến năm 2030, tầm nhìn 2045, ngày 9/10, Thứ trưởng Công Thương Lương Hoàng Thái cho rằng, xuất nhập khẩu tiếp tục là động lực quan trọng để Việt Nam thực hiện các mục tiêu phát triển. Song, khi quy mô nền kinh tế lớn hơn và độ mở thương mại đã ở mức cao, trọng tâm cần chuyển từ mở rộng kim ngạch sang nâng cao chất lượng, hiệu quả.

Toàn cảnh Hội thảo. Ảnh: Báo Công thương
Một vấn đề được Thứ trưởng Lương Hoàng Thái đặc biệt lưu ý là sự chênh lệch về đóng góp xuất khẩu giữa khu vực doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Theo ông, tỷ trọng của khu vực FDI trong tổng kim ngạch xuất khẩu Việt Nam trước đây ở mức hơn 70%, nay đã vượt 80%. Điều này cho thấy vai trò lớn của khu vực FDI trong mở rộng thương mại, nhưng cũng đặt ra câu hỏi về giá trị thực sự được giữ lại trong nền kinh tế.
Quy mô xuất khẩu tăng nhanh chưa đồng nghĩa với năng lực nội sinh, khả năng làm chủ công nghệ và giá trị gia tăng trong nước được nâng lên tương ứng. Vì vậy, Việt Nam cần tham gia sâu hơn vào những công đoạn thiết yếu của chuỗi cung ứng, tăng hàm lượng nội địa và phát triển năng lực sản xuất trong các ngành công nghiệp nền tảng. Dẫn ví dụ ngành điện tử, ông Thái cho rằng năng lực tham gia chuỗi sản xuất toàn cầu không chỉ thể hiện ở lắp ráp, mà còn ở khả năng đảm nhận các công đoạn phức tạp hơn như kiểm tra, thử nghiệm và chế tạo. Đây là hướng cần được chú trọng để nâng cao năng lực công nghiệp và tạo thêm giá trị cho nền kinh tế.
Theo dự thảo Chiến lược, xuất khẩu hàng hóa được đặt mục tiêu tăng bình quân 15 - 16% mỗi năm trong giai đoạn 2026 - 2030, nhập khẩu tăng 12 - 13%. Tỷ trọng xuất siêu trên tổng kim ngạch xuất khẩu bình quân hướng tới 3 - 6%. Đến năm 2045, Việt Nam phấn đấu nằm trong nhóm 10 quốc gia có kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu lớn nhất thế giới, với tỷ trọng xuất siêu đạt 7 - 10%.
Đáng chú ý, dự thảo không chỉ đặt mục tiêu về quy mô mà còn xác định các chỉ tiêu chuyển dịch cơ cấu. Tỷ trọng xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp trong nước phấn đấu đạt 28 - 30% vào năm 2030 và 38 - 40% vào năm 2045. Cùng với đó, tỷ trọng hàng chế biến hoặc đã tinh chế trong tổng kim ngạch xuất khẩu dự kiến đạt 89 - 90% vào năm 2030, trên 92% vào năm 2045. Giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao hướng tới chiếm khoảng 50% tổng giá trị xuất khẩu hàng chế biến, chế tạo vào năm 2030 và trên 55% vào năm 2045.
Từ gia công sang làm chủ sản phẩm, thị trường
Các mục tiêu này thể hiện định hướng chuyển dịch xuất khẩu theo hướng chế biến sâu, công nghệ cao, đồng thời nâng cao vai trò của doanh nghiệp trong nước. Để hiện thực hóa, đại diện các hiệp hội ngành hàng cho rằng cần tập trung nâng năng lực doanh nghiệp, phát triển liên kết sản xuất và tăng khả năng thích ứng trước biến động thương mại quốc tế.
Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam Ngô Sỹ Hoài nhận định, cạnh tranh quốc tế đang thay đổi nhanh chóng. Nếu trước đây doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu cạnh tranh với các nước Đông Nam Á, nay phạm vi cạnh tranh đã mở rộng. Trong khi đó, lợi thế chi phí lao động thấp đang thu hẹp. Với ngành gỗ, nhiều doanh nghiệp vẫn chủ yếu gia công theo đơn hàng và mẫu mã của đối tác nước ngoài, khiến khả năng chủ động về sản phẩm, giá bán và vị trí trong chuỗi cung ứng còn hạn chế.
Theo ông Hoài, doanh nghiệp cần chuyển mạnh sang chủ động thiết kế, sáng tạo mẫu mã và nâng cao giá trị sản phẩm. Quá trình này đòi hỏi đầu tư đáng kể vào máy móc, công nghệ, nhân lực và tổ chức sản xuất, cùng sự kết nối với các cơ sở đào tạo và hệ sinh thái công nghiệp. Một hướng đi khác là tăng liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với khu vực FDI. Thay vì chỉ chú trọng thu hút thêm dự án, cần tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt tham gia chuỗi cung ứng, tiếp cận công nghệ và từng bước đảm nhận những công đoạn có giá trị cao hơn.
Ở ngành thủy sản, Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam Nguyễn Hoài Nam đề nghị Chiến lược xác định rõ mục tiêu, nguồn lực và giải pháp, chuyển thành chương trình hành động có lộ trình và trách nhiệm cụ thể. Việc nâng giá trị xuất khẩu cần gắn với chế biến, chất lượng sản phẩm và tháo gỡ các quy định gây khó khăn trong tiếp cận nguyên liệu, tổ chức sản xuất.
Với ngành gạo, đại diện Hiệp hội Lương thực Việt Nam nhấn mạnh yêu cầu xây dựng thương hiệu quốc gia, xác định rõ cơ quan chủ trì và trách nhiệm thực hiện. Theo số liệu được nêu tại hội thảo, ba năm gần đây, gạo Việt Nam chiếm khoảng 80 - 85% lượng gạo nhập khẩu của Philippines. Ngược lại, thị trường này chiếm 40 - 45% tổng lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam. Mức độ phụ thuộc lớn cho thấy cần đa dạng hóa thị trường, đồng thời duy trì các thị trường truyền thống và chủ động ứng phó với thay đổi chính sách nhập khẩu.
Từ thực tiễn các ngành hàng, yêu cầu đặt ra với Chiến lược xuất nhập khẩu không chỉ là mở rộng thị trường, mà còn nâng chất lượng nguồn hàng, phát triển thương hiệu, ứng dụng công nghệ, thúc đẩy xuất khẩu xanh, kinh tế tuần hoàn và hoàn thiện hệ thống logistics. Những giải pháp này cần được triển khai đồng bộ với chiến lược phát triển các ngành sản xuất, để tăng trưởng xuất khẩu tạo sức lan tỏa lớn hơn tới doanh nghiệp trong nước. Khi doanh nghiệp từng bước làm chủ công nghệ, sản phẩm và thị trường, thành quả xuất khẩu sẽ được phản ánh rõ hơn ở giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Nguồn: https://daibieunhandan.vn/xuat-khau-huong-toi-tang-truong-15-16-moi-nam-10433374.html



Viết bình luận